Abandon Iraq and see a Vietnam horror show
William Shawcross (The Sunday Times 26/8/07)`
Khánh Đăng lược dịch
Một người đã nhìn thấy Việt Nam biến thành địa ngục sau khi người Mỹ ra đi, cảnh báo việc gây ra thảm hoạ tương tự cho Iraq.
Không phải tất cả mọi người sẽ cho đó là một cái bằng danh dự được tuyên dương một cách thiên vị bởi Tổng thống Bush trong một bài diễn văn về Iraq, nhưng nó đã xảy ra đối với tôi hồi tuần trước khi ông Bush cảnh báo rằng cái hậu quả của việc vội vã rút khỏi Iraq có thể đưa đến một cuộc tắm máu còn tồi tệ hơn cái đã xảy ra tại Đông Dương sau sự thất bại của Hoa Kỳ năm 1975. Trời ơi, tôi nghĩ là ông ta đúng.
Dĩ nhiên là Iraq chưa rơi vào tình trạng đó như tôi và những người ủng hộ việc lật đổ Saddam Hussein đã hy vọng. Vài nhà phê bình người Anh đã lập luận về việc rời bỏ Iraq như sau: cái hậu quả, theo tôi nghĩ, sẽ thê thảm vô vàn hơn là những ghê rợn mà chúng ta đang nhìn thấy hôm nay.
Lời đề nghị (rút khỏi Iraq) đã làm ngơ cái sự thật là đối với những kẻ Hồi giáo cực đoan, và đặc biệt là nhóm khủng bố Al-Qaeda, thì cuộc chiến để đánh bại phương Tây không thể tách rời nhau được. Osama Bin Laden đã nói Iraq là mặt trận tiền phương. Chiến thắng của Al-Qaeda sẽ làm cho nhóm này lớn mạnh thêm ở tất cả mọi nơi.
Trong bài diễn văn dài giống như một bài giảng - ông Bush đã đề cập đến cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của Graham Greene, "Người Mỹ Thầm Lặng", mà cuốn sách này miệt thị những cố gắng của người Mỹ tại Việt Nam - ông Bush nói: "Mới đây, có hai người ở hai bên đối diện nhau trong cuộc tranh luận về cuộc chiến Việt Nam, đã hợp tác với nhau để viết một bài tiểu luận. Một người là thành viên của toán chính sách đối ngoại của Tổng thống Nixon, và người kia là một nhà phê bình rất gay gắt về các chính sách của chính phủ Nixon. Cùng với nhau, họ đã viết rằng hậu qủa của việc Hoa Kỳ thất bại tại Iraq sẽ thê thảm."
"Đây là điều họ viết, ’Thất bại sẽ đưa đến một sự bùng nổ vô cùng mãn nguyện trong các thế lực Hồi giáo cực đoan, và đẩy toàn bộ cả khu vực Trung Đông vào một sự hỗn lọan lớn hơn. Cái giá phải trả về nhân mạng và chiến lược sẽ ớn lạnh để tưởng tượng’. Tôi tin rằng họ nói đúng."
Hai người mà ông Bush đề cập đến là Peter Rodman, một cựu trợ tá của Henry Kissinger và mới đây là phụ tá Bộ trưởng quốc phòng trong chính phủ ông Bush, và tôi.
Khi tôi làm nhiệm vụ tường thuật cuộc chiến Đông Dương cho tờ báo The Sunday Times, tôi đã chống lại những cố gắng của Hoa Kỳ. Sau khi phiá cộng sản thắng, những câu chuyện rùng rợn về sự dã man (của cộng sản) bắt đầu xuất hiện. Hàng ngàn và rồi cuối cùng là hàng triệu người, hầu hết là các "thuyền nhân", đã trốn thoát sự tàn ác của những kẻ chiến thắng cộng sản Việt Nam. Tại Cambodia, những kẻ chiến thắng cộng sản Khmer Đỏ thì tàn ác nhiều hơn và khoảng gần 2 triệu người Cambodia đã bị hành quyết hoặc chết.
Sau khi nói chuyện với những người tị nạn Cambodia tại biên giới Thái-Miên, tổ chức một số những cuộc phỏng vấn tại Hoa Kỳ và thâu thập hàng ngàn trang tài liệu chính thức, được phép dưới đạo luật Tự do tìm kiếm thông tin của Hoa Kỳ, tôi đã viết một cuốn sách gọi là Sideshow: Kissinger, Nixon and the Destruction of Cambodia (Màn phụ: Kissinger, Nixon và Sự Tàn Phá của Cambodia), mà nội dung cuốn sách đã chê trách một cách vô cùng nặng nề chính sách về Cambodia của Toà Bạch Ốc dưới thời Tổng thống Nixon. Cuốn sách đó lập luận về sự thiếu thận trọng của người Mỹ từ 1970-1975 đã đưa đến việc tàn phá đất nước này và giúp cho bọn Khmer Đỏ tàn ác chiếm được quyền lực.
Ông Kissinger đã từ chối lời yêu cầu của tôi để được phỏng vấn trước khi xuất bản quyển sách, nhưng sau đó người trợ tá của ông ta là Peter Rodman, đã xuất bản cuốn The American Spectator (Người Mỹ Quan Sát) là một cuốn sách dài, rất chi tiết để tấn công tôi và công trình nghiên cứu của tôi một cách rất mạnh mẽ. Tôi đã phản pháo, ông Rodman tấn công lại và cứ thế - sự việc đó khá lý thú và tôi đã bao gồm tất cả những trao đổi đó trong những lần tái bản của cuốn sách Màn phụ: Kissinger, Nixon và Sự Tàn Phá của Cambodia
Gần 25 năm sau, sau khi Saddam bị lật đổ, điều mà tôi đã ủng hộ, thì cuối cùng tôi gặp Rodman lần đầu tiên và tôi vui sướng mà nói rằng chúng tôi đã trở thành bạn. Đầu năm nay chúng tôi cùng nhau viết bài tiểu luận đã khiến cho ông Bush chú ý đến.
Hôm nay, cũng như trong thập niên 1970s, giới báo chí truyền thông có một trách nhiệm đặc biệt. Tại Đông Dương, đa số các ký gỉa Hoa Kỳ và Âu Châu (trong đó có tôi) đã tin rằng cuộc chiến Việt Nam đã không thể và không nên thắng. Cuối cùng thì một cái tít lớn trên tờ Nữu Ước Thời Báo đã viết như thế này: "Đông Dương không có người Mỹ: Hầu hết có một cuộc sống tốt hơn."
Sự ngây thơ như vậy đã sai lầm thê thảm, và tôi luôn nghĩ rằng những người như chúng tôi, những kẻ chống cuộc chiến của người Mỹ tại Đông Dương nên mang bộ mặt vô cùng xấu hổ vì những gì khủng khiếp đã xảy ra sau đó. Tương tự như hôm nay, tôi nghĩ rằng cái mà nhiều kẻ trong giới có thế lực căm ghét (và đó thực sự là như vậy) là việc ông Bush và (cho đến mới đây là ông Blair, Thủ tướng Anh) luôn được công luận chú ý đến.
Nhiều nhà bình luận sa lông có vẻ như muốn đào sâu thêm việc xúc phạm (người dân Iraq) của lính Mỹ tại Abu Ghraib (đã bị chấm dứt nhanh chóng và trừng phạt) hơn là những vụ giết người khủng khiếp hàng loạt và có tính toán của bọn khủng bố, thuộc cả hai phe Sunni và Shi’ite. Quá nhiều người Hồi gíao đã chết tại Iraq, và đại đa số không phải là nạn nhân của lính Mỹ hoặc lính Anh. Họ đã bị giết bởi những người Hồi gíao khác.
Trên tất cả, chúng ta đã không có sự chú ý đúng đắn đến hàng triệu người Iraq (cũng giống như những người Việt, người Cambodia và Lào cách đây 35 năm) đang đặt niềm tin vào phương Tây. Sự sợ hãi của những thông dịch viên người Iraq làm việc cho quân đội Anh bị bỏ rơi tại Basra chỉ là cái ngọn của một tảng băng.
Bên cạnh đó, nhiều nhà bình luận và chính trị gia người Anh bây giờ đang đề nghị là chúng ta nên bỏ Iraq và chỉ nên chiến đấu tại Afghanistan. Thật là ngẫu nhiên, sự tranh luận này đang xảy ra khi mà lần đầu tiên, người Mỹ đang có những tiến triển khả quan trong việc tảo thanh nhóm Al-Qaeda tại khu vực hậu cứ của chúng tại vùng tây bắc Iraq và thủ đô Baghdad. Dưới sự điều quân của một trong những tướng lãnh tài ba nhất của Hoa Kỳ, tướng David Petraeus, chính phủ của ông Bush đã đưa khoảng 30 ngàn quân Mỹ đến những khu vực này và đánh bật nhóm Al-Qaeda ra khỏi đây.
Thành phần nổi dậy tại địa phương đang bị bất mãn bởi những thủ đoạn tàn ác của Al Qaeda - chặt đầu trẻ thơ, xẻo mặt người bằng dây đàn dương cầm, dùng xe bồn chứa hơi chlorine và hàng đống xe bomb như những vũ khí giết người hàng loạt để giết càng nhiều người vô tội càng tốt - và đang đoàn kết lại cùng chính phủ Iraq. Sự tin tưởng đang bắt đầu trở lại: ngay cả vùng Falluja, là một điạ ngục với những phòng tra tấn và bạo động Hồi giáo cho đến khi thuỷ quân lục chiến Hoa Kỳ đến và đuổi Al Qaeda đi, bây giờ đã có một phòng thương mãi đang tăng trưởng.
Vào tháng tới tướng Petraeus phải điều trần về những thành công và thất bại tại Iraq trước Quốc Hội Hoa Kỳ, là nơi mà cả hai Đảng Dân chủ và Cộng hoà đang gia tăng nghi ngờ nếu không muốn nói thẳng là chống đối lại những chính sách của Tổng thống Mỹ. Ông Bush có thể tuyên dương một cách chính đáng sự dũng cảm, lòng quyết tâm và những thành công của quân đội Mỹ. Nhưng những tiến triển của họ chưa được đáp ứng đúng bởi sự hòa giải và tiến triển giữa những thành viên người Sunni, Shi’ite and Kurdish của chính phủ Iraq. Sự đe doạ thật sự đối với Iraq bây giờ đang nằm ở đó.
Hậu quả thất bại của Hoa Kỳ tại Iraq có thể sẽ xấu hơn ngay cả Đông Dương. Như lãnh tụ của nhóm Al-Qaeda tại Iraq là Abu Musab al-Zarqaw đã nói trước khi bị giết chết trong một cuộc không tập của Hoa Kỳ: "Máu của người Hồi giáo được phép đổ ra để ngăn cản một nguy hiểm lớn hơn là việc ngăn cản cuộc thánh chiến jihad". Sự trả thù kiểu Hồi giáo đối với những người theo đạo Hồi đang cố gắng xây dựng một đất nước Iraq tốt đẹp hơn sẽ vô cùng thê thảm.
Tại sao những ghê rợn gây ra bởi bọn Hồi giáo cực đoan tại Darfur làm cho chúng ta gớm ghiếc hơn là tại Iraq? Bởi vì, theo tôi đoán, trong sự nhảy múa điên cuồng của cái đạo đức gỉa tự dối lòng, chúng ta thích đổ thừa cho Hoa Kỳ hơn. Chúng ta nên trưởng thành.
Những ghê rợn tại Darfur sẽ giảm màu sắc bên cạnh một cuộc tắm máu tại Iraq nếu chúng ta rút ra khỏi nơi đây, trước khi những gì có thể làm được đã làm rồi để giúp lực lượng an ninh Iraq bảo vệ đất nước của họ chống lại sự tàn ác của những tranh chấp phe nhóm. Tôi hy vọng Thủ tướng Anh Gordon Brown và các cố vấn của ông ta nhận thức ra rằng những ý tưởng mà chúng ta đang tìm kiếm để rút ra khỏi Iraq sẽ bảo đảm một thất bại. Trong cuộc thánh chiến jihad toàn cầu, tuyên truyền là một vũ khí chiến tranh quan trọng hơn bất cứ lúc nào trước đây.